CANXI CARE BONE THIÊN AN

THÔNG TIN
Giá liên hệ
ĐẶT HÀNG
Cần mua:
Trạng thái:
Còn hàng
MÔ TẢ

CANXI CARE BONE THIÊN AN

Thông tin sản phẩm

1. THÀNH PHẦN CẤU TẠO:

Thành phần cho 10ml:

- Canxi glucoheptonat 350mg, Vitamin D3  150IU, L-Lysine HCl 200mg, Vitamin B1  1mg, Vitamin PP 3mg.

- Phụ liệu: Đường, nước tinh khiết vừa đủ 10ml.

2. CÔNG DỤNG:

  • Bổ sung Canxi và Vitamin D cần thiết cho trẻ em thời kỳ tăng trưởng giúp phát triển chiều cao, răng, xương chắc khỏe, giảm còi xương, giúp trẻ ăn ngon, kích thích tiêu hóa, tăng cường hấp thu dưỡng, suy dinh dưỡng ở trẻ em.
  • Phụ nữ thời kỳ chuẩn bị mang thai, mang thai, thời kỳ cho con bú và người cao tuổi.

3. ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG:

- Trẻ em chậm lớn còi xương, chậm mọc răng cần bổ sung Canxi và Vitamin D và trong giai đoạn phát triển chiều cao.

- Phụ thời kỳ chuẩn bị mang thai, mang thai và thời kỳ cho con bú.

- Người lớn cần bổ sung Canxi và Vitamin D và suy nhược cơ thể, ăn ngủ kém.

4. LIỀU DÙNG:

Uống trước hoặc sau ăn 1-2h. Lắc kỹ đều dung dịch trước khi uống.

- Trẻ em dưới 2 tuổi uống 1 ống/lần/ngày

- Trẻ em 2 - 6 tuổi: 1 ống/lần, 1-2 lần/ngày.

- Trẻ em 7 - 9 tuổi: 1 ống/lần, 2 - 3 lần/ngày.

- Trẻ em trên 9 tuổi và người lớn: 2 ống/lần, 2 - 3 lần/ngày.

CƠ CHẾ TÁC DỤNG

Canxi:
Canxi là muối khoáng mà cơ thể con người có nhiều nhất. Ở người lớn nó chứa từ 1000 đến 1500g tùy theo trọng lượng, trong đó 98% đến 99%  có trong xương cũng gây có ở trong xương và răng. Do đó canxi thiết lập lên 1,6% trọng lượng toàn bộ cơ thể. Khi 1% canxi không có trong xương cũng gây những nguy cơ nghiêm trọng. Canxi được phân bố giữa nội bào và ngoại bào.
Canxi đóng nhiều vai trò sinh lý như:
- Xây dựng lên xương và răng, đồng thời kết hợp với photpho, magie để bảo đảm cho quá trình phát triển chắc và duy trì xương và răng.
- Chịu áp lực co thể khi đứng và thực hiện các cử động thêm một vài điểm của xương.
Trên thực tế, cần cung cấp hàng ngày từ 1-1,5g canxi cho cơ thể.
(Theo ”Bách khoa toàn thư về Vitamin, Muối khoáng và các yếu tố vi lượng”, trang 227-229).

L-Lysine HCl
Lysine là một trong 12 axit amin thiết yếu cần có trong bữa ăn hằng ngày. Lysine là thành phần của nhiều loại protein, là yếu tố quan trọng trong việc duy trì hệ miễn dịch, phát triển men tiêu hóa, kích thích ăn ngon. Tuy nhiên, cơ thể con người lại không thể tạo ra Lysine mà chỉ có thể bổ sung Lysine thông qua đường ăn uống. Lysine đặc biệt quan trọng với việc phát triển của cơ thể và giữ vai trò thiết yếu trong việc hình thành carnitine, một chất dinh dưỡng giúp chuyển hóa các axit béo thành năng lượng và giảm hàm lượng cholesterol. Lysine cũng tăng cường khả năng hấp thụ canxi và hình thành collagen, một thành phần quan trọng của xương và các mô liên kết bao gồm da, dây chằng, sụn, giúp tăng cường chiều cao, ngăn ngừa bệnh loãng xương.
 (Theo nguồn tài liệu nghiên cứu về Lysine của Trung tâm y tế, trường ĐH Maryland, “ Lysine Overview”).

Vitamin D:
Thuật ngữ Vitamin D được áp dụng cho tất cả các phức hợp có dạng hóa học giống nhau trong thực vật hay trong động vật. Hai dạng nhiều vitamin D2 có trong thực vật và vitamin D3 có trong động vật.
Vitamin D được da tổng hợp dưới tác dụng của ánh nắng mặt trời. Vitamin có nguồn gốc bên trong sẽ được hấp thu bởi mạch máu, vitamin D có nguồn gốc bên ngoài đầu tiên được hấp thụ trong ruột non kèm theo mỡ, sau đó được đưa vào tuần hoàn chung.
Vitamin D chiếm vị trí rất đặc biệt, dù cho nó có nguồn gốc bên trong, từ quá trình tổng hợp của da hay nguồn gốc bên ngoài. Vitamin D làm tăng khả năng hấp thu và cố định canxi cùng photpho. Trong ruột, vitamin D tạo điều kiện tăng hấp thu photpho canxi. Trong xương, nó làm tăng số lượng canxi được tiết ra trong máu. Trong thận, nó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hấp thu photpho. Tất cả hoạt động này đều nhằm mục đích duy trì lượng photpho canxi có sẵn trong cơ thể để hóa xương.
Nhu cầu vitamin D trong ngày là 10mg (400IU), liều được khuyên dùng từ 20-30mg (800-1200IU) trong hai năm đầu tiên sau sinh và vào mùa đông cho đến 5 tuổi. Ở phụ nữ có thai, vào cuối thai kỳ, người ta khuyên dùng liều từ 10-20mg/ngày (400-800IU).
(Theo ”Bách khoa toàn thư về Vitamin, Muối khoáng và các yếu tố vi lượng”, trang 152-156).

Vitamin B1
Vitamin B1 là một chất vận chuyển thần kinh có dẫn truyền xung động thần kinh tại hệ thần kinh trung ương (não, tủy sống) cũng như hệ thần kinh ngoại biên (mạng lưới thần kinh nối liền hệ thần kinh trung ương với cơ và các nội tạng). Vai trò của B1 cũng rất quan trọng trong chức năng của cơ nói chung và của tim nói riêng, cũng như đối với trí nhớ.
Vitamin B1 giữ vai trò chủ đạo trong chuyển hóa năng lượng, nhất là chuyển hóa glucid, vitamin B1 cho phép và điều hòa khả năng sử dụng glucid. Nếu cơ thể thiếu vitamin B1 thì khả năng chuyển hóa glucid sẽ không đủ và glucose, thức ăn chính của tế bào thần kinh cũng bị thiếu.
Vitamin B1 không tác động trực tiếp, nhưng giống như tất cả các vitamin nhóm B, nó được chuyển đổi thành coenzyme, đặc biệt nhờ quá trình can thiệp của magnesi.
(Theo “Bách khoa toàn thư về Vitamin,Muối khoáng và Các yếu tố vi lượng”, NXB Y học, trang 55-57). 

Sản phẩm liên quan